Kỷ niệm 10 năm vanchuongviet.org
Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
20.078 tác phẩm
2.478 tác giả
462
50.803.062
 
Thơ Đường Luật Trong Dòng Chảy Của Thơ Việt Đương Đại
Bùi Công Thuấn

Hiện nay có khá nhiều người làm thơ Đường luật. Câu Lạc Bộ UNESCO – Thơ  Đường  Việt Nam có 77 chi hội trong cả nước,  2349 hội viên [1]. Câu Lạc Bộ UNESCO – Thơ  Đường  Việt Nam cũng đã tổ chức được các đại hội toàn quốc, in tuyển tập thơ “ Thơ Đường luật Việt Nam”. Do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành,với gần 1500 trang thơ, của các chi nhánh hội thơ trong cả nước.[2] Ở hải ngoại, phong trào làm thơ Đường luật cũng sôi nổi. Hà Đình Huy cho biết :” Ở Pháp nhóm Bảo Tồn Văn Hoá Việt chủ trương sưu tầm lại các thi phẩm cổ, mà phần lớn là những bài thơ Đường Luật của các danh nhân Trung Hoa cũng như Việt Nam. Những bài thơ của các thi hào Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lê Thánh Tông, được nhóm trân quý và cho in thành sách. Phong trào làm sống lại thơ Đường mạnh nhất là nhóm của các thi sĩ Thiên Tâm, Đông Thiên Triết, Trường Giang…, trong hội “Thi Văn Đàn Bốn Phương” ở miền Bắc tiểu bang California Hoa kỳ…[3]

 

Do đâu thơ Đường luật được nhiều người quan tâm, sáng tác và bảo tồn ? và do đâu, dù có nhiều người sáng tác thơ Đường luật, nhưng chưa có nhà thơ hay bài thơ Đường luật nào ghi được dấu ấn trong dòng thơ Việt đương đại ? Phải chăng làm thơ Đường luật ngày nay chỉ như một thú chơi đồ cổ của một thế hệ người làm thơ đã thuộc thời quá vãng ?

 

1.Cái thú của người chơi thơ Đường luật

 

Người làm thơ Đường luật hẳn nhiên là người yêu thơ Đường và cảm nhận được cái hay của thơ Đường. Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Giả Đảo, Vương Bột, Vương Duy, Thôi Hộ, Thôi Hiệu, Liễu Tông Nguyên, Trương Kế, Vương Xương Linh, Lạc Tân Vương …đã để lại những tuyệt tác cho hậu thế mà bất cứ ai đọc thơ Đường không thể không ngưỡng phục.Các nhà thơ Đường hầu như đã khai thác mọi đề tài, kể cả tình dục [4], họ đã khám phá được những tứ thơ độc đáo, diễn tả được mọi khía cạnh của tâm hồn bằng vẻ đẹp của một kiểu tư duy thơ thiên về trí tuệ. Cái hay của thơ Đường là ở tứ thơ, ở kiểu ngôn ngữ hàm xúc và ở vẻ đẹp của tư tưởng. Xin đọc

 

Giang Tuyết

 

Thiên sơn điểu phi tuyệt

Vạn kính nhân tung diệt

Cô chu toa lạp ông

Độc điếu hàn giang tuyết

Liễu Tông Nguyên

 

(Nghĩa : Trên nghìn núi chim bay hết/

Trên muôn lối đi không có dấu người /

Thuyền lẻ loi, ông chài áo tơi nón lá/

một mình câu tuyết trên sông  lạnh )

 

Đăng Cao

 

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai

Chử thanh sa bạch điểu phi hồi

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ

Bất tận Trường Giang cổn cổn lai

Vạn lí bi thu thường tác khách

Bách niên đa bệnh độc đăng đài

Gian nan khổ hận phồn sương mấn

Lạo đảo tân đình trọc tiểu bôi

Đỗ Phủ

 

(Nghĩa: LÊN CAO

Gió thổi mạnh, trời cao,  vượn kêu buồn thương,

Bến nước trong, cát trắng, chim bay trở về

Lá cây rụng ào ào, dường như không bao giờ hết

Sông Trường Giang   cuồn cuộn chảy bất tận

Mùa thu buồn, thường làm khách (xa nhà) vạn dặm,

Cõi đời trăm năm nhiều bệnh, một mình bước lên đài.

Khổ hận gian nan (làm cho) búi tóc nhuộm đầy sương

Lận đận gần đây phải ngừng chén rượu đục

 

Dịch thơ:

Trèo lên cao

Gió mạnh trời cao vượn réo sầu

Bến trong cát trắng, chim về đâu ?

Mênh mông cây rụng hiu hiu trải,

cuồn cuộn Trường Giang chảy chảy mau.

Muôn dặm sầu thu, thường tác khách,

Trăm năm đa bệnh, dạo đài cao.

Gian nan khổ hận đầu mau bạc,

lận đận đành thôi chén rượu đào.

(Ngô Văn Phú)

 

Vọng Lư Sơn bộc bố

 

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

Phi lưu trực há tam thiên xích

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên

Lý Bạch

 

Nghĩa

Xa ngắm thác núi Lư

Mặt trời chiếu núi Hương Lô sinh làn khói tía

Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước

Thác chảy như bay đổ thẳng xuống ba nghìn thước

Ngỡ là sông Ngân Hà rơi tự chín tầng mây

 

Đọc những bài thơ này, bạn đọc hôm nay sẽ ngạc nhiên trước sự khám phá những tứ thơ thật lạ, thể hiện những tình cảm mãnh liệt của thi nhân và kiểu tư duy thơ thiên về vẻ đẹp trí tuệ, vẻ đẹp tư tưởng. Chính cái đẹp của tứ thơ tư tưởng có sức ám ảnh và lay động sâu xa trong lòng người đọc.

 

Thơ Đường luật Việt Nam đã được các bậc tiền bối Việt hóa. Sự khác biệt cơ bản là ở kiều tư duy nghệ thuật. Hình tượng thơ không còn là tứ thơ tư tưởng mà là hình ảnh biểu cảm (như hình ảnh trong ca dao). Cái hay của thơ Đường luật Việt Nam là ở tình tự dân tộc, làng quê, ở chất dân dã mộc mạc nhưng tinh tế, ở phẩm chất tâm hồn và văn hóa Việt Nam

 

Bạn Đến Chơi Nhà

 

Đã bấy lâu nay bác tới nhà.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta
.

Nguyễn Khuyến

 

Qua Đèo Ngang

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen lá đá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.

Bà Huyện Thanh Quan

 

Thương vợ

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phần
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.

Trần Tế Xương

 

Thơ Đường luật còn đem đến cho người chơi thơ những thú vui trí tuệ của nghệ thuật ngôn từ. Đó là cái thú của sự tài hoa vượt qua luật lệ cứng nhắc gò bó chật chội của thơ Đường. Đó là nghệ thuật chơi chữ mà khó có thứ ngôn ngữ nào khác tiếng Việt có thể có được. Xin đọc bài Cửa Sổ Đêm Khuya sau đây của Hàn Mặc Tử

 

Hoa cười nguyệt rọi cưả lồng gương

Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương

Tha thướt liễu in hồ gợn sóng

Hững hờ mai thoảng gió đưa hương

Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng

Qua lại yến ngàn dâu ủ lá

Hoà đàn sẵn có dế bên tường

 

Bài Cửa Sổ Đêm Khuya có thể đọc nhiều cách : đọc xuôi, đọc ngược. Bỏ 2 chữ đầu đọc xuôi, bỏ 2 chữ cuối đọc ngược.

 

Bài Nỗi Buồn Xuân Xưa của Đông Hòa cũng có thể đọc thuận, nghịch [5]

 

Xuân vắng đã xưa cảnh đổi dời

Muộn ngày thêm trắng sợi buồn rơi

Nhân tình luyến mộng đêm mòn giấc

Mộ huyệt chôn người kiếp khổ đời

Ân oán nỗi lòng vương đắm mộng

Đớn đau hồn lặng khuất ngàn khơi

Trần duyên mãi tiếc ai tràn lệ

Xuân đợi mỏi chân bước rã rời

 

Nghệ thuật xướng-họa cũng là một cái thú của thơ Đường luật. Bởi người họa phải vượt qua cái khó của thi luật, tình, ý  mà người xướng nêu ra, đồng thời cũng phải thể hiện được nét tài hoa trong nghệ thuật và tầm vóc văn hóa tương xứng với người xướng. Cặp xướng –họa Xuân Hương và Chiêu Hổ là một thí dụ.

 

Hồ Xuân Hương xướng:

 

Anh đồ tỉnh, anh đồ say

Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Này này chị bảo cho mà biết

Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!

 

Chiêu Hổ họa:

 

Này ông tỉnh, này ông say

Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Hang hùm ví bẵng không ai mó

Sao có hùm con bỗng trốc tay?

 

Đọc bài xướng –họa trên, người đọc không còn thấy đâu là những vướng mắc của thi luật, hay khuôn sáo của văn chương cửa Khổng sân Trình, trái lại sự tài hoa của nhà thơ, những tinh tế của tiếng Việt và những tứ thơ bất ngờ, độc đáo làm vỡ ra những thú vị nghệ thuật không dễ có được .

 

2. Thơ Đường luật trong dòng chảy của thơ Việt Đương đại

 

Trong tiến trình thơ Việt đương đại, thơ Đường luật không giành được một vị trí đáng được chú ý, mà hình như chỉ hiện diện bên lề, người đi đường không mấy quan tâm. Người làm thơ Đường luật lý giải thế nào về thực tế này ?

 

Câu trả lời có lẽ nằm ngay trong thi pháp thể loại. Thơ Đường luật Bát cú hay Tứ Tuyệt, với số câu, số chữ giới hạn, không chứa đựng nổi hiện thực lớn lao, không diễn tả được những cảm xúc mãnh liệt của con người trước những biến động của lịch sử. Không phải ngẫu nhiên mà  trường ca phát triển mạnh trong thơ Việt Nam từ ngay sau Cách Mạng tháng Tám 1945 (Đèo Cả, Hoan Hô Chiến Sĩ Điện Biên) nhất là trong kháng chiến chống Mỹ.

 

Bố cục thơ Đường luật, phép đối, niêm, cách phô diễn tình cảm tư tưởng đều theo khuôn mẫu, khiến cho thơ Đường luật trở nên khuôn sáo, cứng nhắc, vô cảm. Đọc câu thơ trước có thể đoán được ý câu sau (do phép đối). Đọc một bài có thể liên tưởng được nhiều bài. Người làm thơ Đường luật hôm nay hầu như khai thác lại tất cả các đề tài, cảm xúc, tứ thơ đã được người đi trước khai thác, khiến cho thơ Đường luật hiện nay trở nên quá cũ, đánh mất đi sự sáng tạo.

 

Xin đọc

 

Tự hào

 

Kháng chiến gian lao một chặng đường

Anh hùng liệt sỹ sáng bao gương

Bền gan, vững chí qua mưa nắng

Bất khuất, kiên cường vượt tuyết sương

Muôn thuở, danh thơm ngời đất nước

Ngàn đời tên tuổi rạng quê hương

Cháu con mãi mãi luôn ghi nhớ

Ơn lớp người xưa đã dẫn đường .

(Ngô Ngọc Khánh- Cao Bằng)

 

Tức cảnh

 

Cần Thơ nắng trải ngất ngây tình

Nhẹ lướt du thuyền ngoạn cảnh xinh

Bổng tiếng đàn bầu vương nét cọ

Xề câu vọng cổ bén duyên mình

Cầu vươn sừng sững, chim vờn bóng

Nước chảy miên man, cá giỡn hình

Vẳng giọng hò ai da diết lạ

Hay là nhắn gọi đất hồi sinh .
(Nguyễn Thanh Toàn –Cần Thơ)

 

Chiều Xuân Hà Nội

Chiều xuân Hà Nội gió riêu riêu

Tháp bút mờ xa rựng ráng chiều

Nắng sót bừng soi đường phố cũ

Trăng ngời rắc hạt bức tường rêu

Long Biên sừng sững con rồng thép

Sông Nhị lung linh giải lụa điều

Cây cối xanh tươi mầm nảy nụ

Bờ xa ríu rít tiếng chim kêu

(Xuân Bảo- Đồng Nai)

 

Ba bài thơ trên rất chuẩn mực về niêm luật, về câu chữ và tình ý. Bạn đọc không thể chê vào đâu được. Thế nhưng khuôn mẫu cứng ngắc, sáo mòn, giả tạo, cũ kỹ của thơ Đường luật làm cho nội dung bài thơ trở nên quá lạc hậu với đời sống đang cuồn cuộn chảy ngoài kia, khiến người đọc thơ  khó tránh khỏi sự ngán ngẩm về một thứ thơ đã mờ nhạt rêu phủ.

 

Người làm thơ Đường luật hôm nay vẫn vịnh cảnh, tức cảnh, Xuân, Hạ, Thu, Đông, trăng, rượu, thù tạc, nhâm nhi với tình bạn, tình quê, trải lòng với đất nước, giãi bày tâm sự, tìm quên trong tư tưởng Lão Trang…

 

Đêm trăng

 

Đêm đêm cùng bạn ngắm trời mây

Mê mải đuổi trăng đến chốn này

Gió chuyển niềm vui tràn bể bắc

Mây xua nỗi nhớ ngập rừng tây

Trăng vàng soi tỏ lòng sông cạn

Mắt ngọc rơi trong giếng nước đầy

Chú dế kêu kêu tròn mũ lính

Chị Hằng nhè nhẹ vịn tay xoay .

(trong tập Những Hạt Phù Sa-CLB thơ Hài Đức)

 

Ung Dung

Rượu bầu thơ túi cứ an nhiên
Thênh thang trời đất sống như tiên
Kệ thằng danh lợi lòng không lụy
Mặc đứa giàu sang dạ chẳng phiền
Gối bóng trăng khuya vờn đỉnh núi
Tựa làn gió nhạt thoảng bên hiên
Thế gian một kiếp sầu ai oán
Bốn cửa nhân sinh thỏa nhãn tiền

Khánh Chân –Biên Hòa

 

Tuy vậy, đôi khi người đọc cũng gặp được bài thơ hay. Xin đọc

 

Dang dở

Nhỡ hái cho nhau những trái sầu
Tình ta đành để lạnh mưa ngâu
Mênh mông con nước chia bờ mộng
Lặng lẽ đàn chim bỏ nhịp cầu
Chẳng phải em xưa lười dệt cửi
Đâu vì ta trước biếng chăn trâu
Lạc loài hai đứa hai phương nhớ
Mấy bận sương thu nhuộm mái đầu !


Mười năm cách biệt

Thiếu vắng mười năm em với ta
Mười năm mà ngỡ mới hôm qua!
Em chưa chải hết sầu trên tóc
Ta đã chôn rồi mộng dưới hoa
Vẫn nhớ vẫn thương mà cách trở
Dẫu cười dẫu khóc cũng chia xa
Con tim vô tội chưa ngừng đập
Thì chút tình xưa mãi thiết tha…


Đó là hai bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú của nhà thơ Đinh Vũ Ngọc đang sống ở Phố cổ Hội An
[6]. Thực ra sức hấp dẫn của hai bài thơ trên là ở cảm hứng lãng mạn mà ngòi bút tài hoa đã vượt qua được sự khô cứng của khuôn mẫu thơ Đường luật cổ điển. “Nhỡ hái cho nhau những trái sầu/Tình ta đành để lạnh mưa ngâu”và “Em chưa chải hết sầu trên tóc/ Ta đã chôn rồi mộng dưới hoa”là những tứ thơ lãng mạn nổi bật lên trên nền Đường luật.

 

3. Con đường nào cho thơ Đường luật Việt Nam hiện nay?

 

Từ thơ Đường đến thơ Đường luật, khởi đi từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, con đường Việt hóa đã hoàn tất bởi thế hệ những nhà thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến… Sau này Quách Tấn cũng không có đóng góp gì mới cho việc cách tân thơ Đường luật.

 

Nét Thương Tâm

Bồi hồi canh trở mộng
Nửa nguyệt gác đầu non
Dưới bóng đèn hiu hắt
Mẹ già ngồi khóc con.

(Quách Tấn)

 

Mong Đợi

 

Ngọt ngào xuân rụng móc
Cam chuối đượm tình quê
Tựa cửa chờ trăng mọc
Muôn xa lòng ghé về.

(Quách Tấn)

 

Lòng Thiên Cổ

 

Giũ áo vào hư không
Nghìn xưa phai nét chữ
Song khuya ngọn sáp hồng
Giọt ứa dòng tâm sự.

(Quách Tấn)

 

Hư Tâm

tặng P. J. F.

Chim chiều kêu trước dậu
Gối sách nhìn hư không
Phơi phới làn mây trắng
Bay
qua ngọn ráng hồng.

(Quách Tấn)

 

Dù Vậy Quách Tấn cũng để lại một gương mặt thơ tài hoa có đường nét riêng, có khí vị Thiền mà sau này Phạm Thiên Thư là người kế thừa (?)Những người làm thơ Đường luật hiện nay đã không đi theo con đường của Quách Tấn, mà đi theo Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…thành ra thơ Đường luật hiện nay quá cũ về thi pháp, hầu như chỉ lặp lại những tình điệu, ý tứ đã được khai thác cạn kiệt.

 

Theo tôi, có hai hướng có thể làm mới thơ Đường luật. Trước hết đặc trưng  thi pháp thơ Đường là ở sự sáng tạo những tứ thơ độc đáo, có vẻ đẹp trí tuệ, vẻ đẹp tư tưởng. Người làm thơ Đường luật muốn đạt được những giá trị mới, nhất thiết phải thực hiện được đặc trưng thi pháp này. Xin đọc Thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh để thấy chủ tịch HCM đã làm mới thơ Đường luật thế nào

 

Nguyên Tiêu

 

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên

Yên ba giang thượng đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

 

Báo Tiệp

 

Nguyệt thôi song vấn : Thi thành vị?

- Quân vụ nhưng mang vị tố thi

Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng

Chính thị liên khu báo tiệp thì

 

Những bài thờ này vẫn nằm trong thi pháp thơ Đường nhưng tứ thơ rất mới và hiện đại. Chất liệu, cảm xúc và tư duy thơ là nghệ thuật cổ điển, song tứ thơ, cảm hứng, nội dung, tư tưởng lại hiện đại

 

Bài Cảnh Rừng Việt Bắc, Sáu Mươi Tuổi của HCM là một hướng làm mới thơ Đường luật theo một lối khác

 

Cảnh Rừng Việt Bắc

 

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày,
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay,
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

 

Sáu Mươi Tuổi

 

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên
Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ
Trần mà như thế kém gì tiên.

 

Đây là hướng các nhà thơ cổ điển Việt hóa thơ Đường đã thực hiện. Nhà thơ đem nguyên chất hơi thở đời sống hiện thực vào thơ. Chính nội dung hiện thực mới này làm cho thơ Đường luật mới mẻ, thoát khỏi khuôn sáo cũ.  Thơ gần với đời sống.

 

Tứ tuyệt Đường luật là một thể thơ đặc sắc, người làm thơ Đường luật nên khai thác thể thơ này. Xin đọc

 

Chim Sẻ Tháng Ba

 

Chim sẻ dập dình ngoài cửa sổ

Bay vào kiếm thóc tận trong nhà

Ngưng tay không nỡ cài then lại

Thương đám chim gầy đói tháng ba

(Ngô Văn Phú)

 

Em bé bán báo cuối năm

Cha mẹ mất vì tai nạn cả
Em đi bán báo dáng liêu xiêu
Phố phường chuẩn bị vào năm mới
Em đợi giàu thêm một tuổi nghèo.

(Mùa Xuân)

 

Ngồi Câu

 

Chẳng chấp gì bé lớn

Một mình nghe lặng thinh

Mây trên đầu luẩn quẩn

Ông ngồi câu bóng mình

(Trần Ngọc Tuấn)

 

Đan Áo

em ngồi đan chiếc áo len xanh
hẹn gió thu về gửi tặng anh
rồi bỏ đó em vào thiên cổ
anh một đời ngóng áo thiên thanh

(Phạm Thiên Thư)

 

Hiện nay có sự pha trộn tứ tuyệt lục bát và tứ tuyệt lãng mạn (kiểu thơ bảy chữ biến đổi luật bằng trắc của thất ngôn Đường luật).Nếu giữ được đặc trưng tứ thơ tư tưởng của thơ Đường thì sự kết hợp vẫn đạt tới những giá trị nghệ thuật mới mẻ

 

Át cơ
Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ
Nhà số lẻ, phố trò chơi để ngỏ
Mộng em hường, tim môi em bói đỏ
Giàn trầu già khua những át cơ rơi

(Lê Đạt)

 

Ngậm ngùi tháng chạp

Người người náo nức về quê
Miến măng giỏ trước, cau chè bị sau
Rưng rưng, hút mắt con tàu
Mình còn cha mẹ nữa đâu mà về!
(Nguyễn Thái Sơn)

 

Vô Biên

Mảnh vườn em qua ngày đó

Lá xanh bay theo tóc mềm

Cỏ xanh tràn theo lối nhỏ

Để giờ vười hóa vô biên

(Trần Ninh Hồ)

 

Thơ Đường và thơ Đường luật Việt Nam là một nền thơ có thi pháp riêng, thi pháp ấy có sức gọi mời thi nhân sáng tạo. Vì thế tôi tin rằng nhiều nhà thơ Việt Nam sẽ tiếp tục tìm đến cái đẹp của thơ Đường luật. Trong muôn một, thế nào người đọc cũng tìm thấy những hạt châu ngọc thi ca lấp lánh.

 

Tháng 7/2011

_____________________________________________-

[1] http://thoduongdatviet.com/11485/144/d/nws/

danh-sach-cac-chi-hoi-unesco-tho-duong-3032011.aspx

[2] http://thoduongdatviet.com/11363/126/d/nws/thi-pham-nam-2010-2011-cua-clb-tho-duong-unesco-viet-nam.aspx

[3] Hà Đình Huy : http://www.saigongate.com/tac-gia.aspx?id=834

[4]Hàn Ốc và Hương Liễm Tập : http://thivien.maihoatran...hp?p=thamkhao&tkid=18

[5]http://vandanviet.net/shop_news.php?l=vn&ac=235&start=0&cn=711&sort=1&item

=4&from=&to=&mode=n&cn=711&n=7832

[6] Dẫn theo Cao Quảng Văn : “Ai bảo thơ Đường không có mật”. http://lethieunhon.com/read.php/3973.htm

 

 

Bùi Công Thuấn
Số lần đọc: 60
Ngày đăng: 26.07.2011
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Người Lính Trong Truyện Trần Hoài Thư - Nguyễn Vy Khanh
Trung-Quốc Thế Kỷ 21 - Nguyễn Vy Khanh
Vốn xã hội, nguy cơ phá sản? - Nam Dao
Triết học cách mạng cho khoa học - Lê Hải*
Thơ Du Tử Lê - Nguyễn Vy Khanh
Thế-kỷ tiểu-thuyết 1 - Nguyễn Vy Khanh
Thế-kỷ tiểu-thuyết 2 - Nguyễn Vy Khanh
Các nhà văn nói về Môn Văn. - Yến Nhi
Triết học đại học - Lê Hải*
Nghĩ Về Đề Tài Chiến Tranh, Tình Yêu Và Siêu Hình, Trong Thơ Luân Hoán - Trần Văn Nam
Cùng một tác giả
Tiếng kèn sắc-xô (truyện ngắn)
Hạnh (truyện ngắn)
Về đâu hoa phượng (truyện ngắn)
Ở nơi băng tuyết (truyện ngắn)
Giải hạn (truyện ngắn)
Tiếng hát ru (truyện ngắn)